Thận trọng với các đô thị gắn mác “Eco” (KỲ II): Kinh nghiệm từ thế giới


Đăng ngày 09/09/2018 00:21:57

Tất cả nguồn lực đô thị được huy động gần như bằng mọi giá để tạo dựng nên hình ảnh hấp dẫn từ những eco - KĐTM nhưng để rồi người ta vẫn thấy có một cái gì đó xa lạ.

Các nước phát triển đang cổ xuý mạnh mẽ xu hướng sinh thái hoá đô thị

Sau 20 năm phát triển, nhìn lại các thành phố Việt Nam hiện nay như những đại công trường lúc nào cũng ngổn ngang bởi các KĐTM xây dựng dở dang và không biết khi nào kết thúc.

Kinh nghiệm từ châu Âu

Trước yêu cầu của thực tiễn đời sống cũng như nắm bắt các xu hướng phát triển đô thị trong tương lai, các eco-KĐTM đa phần được thiết kế và phát triển tự phát, tính sinh thái trong mỗi dự án được quyết định bởi các chủ dự án mà không (phải) qua một sự tham vấn, đánh giá hay thẩm định, nghĩa là xảy ra tình trạng các chủ dự án gọi KĐTM của mình là “sinh thái” thì cả xã hội đô thị mặc nhiên công nhận đó là “sinh thái”.

“Khu dân cư sinh thái” được dịch từ “ecodistrict” (còn được viết “eco- district”) của tiếng Anh hay “écoquartier” (còn được viết “éco-quartier”) của tiếng Pháp, vốn là một từ ghép mới xuất hiện được tạo ra bởi từ gốc “district/quartier” (khu phố, khu vực, khu dân cư) và tiền tố “eco-/éco-” - dạng rút gọn của tính từ “ecological/écologique” (sinh thái).

Khu dân cư sinh thái có thể được xem là một dự án quy hoạch đô thị tôn trọng các nguyên tắc, nguyên lý phát triển bền vững nhưng vẫn đáp ứng và thoả mãn được các đặc tính sinh thái, môi trường riêng của khu vực thiết lập dự án.

Các nước phát triển, đặc biệt ở Châu Âu, nơi được xem là có trình độ công nghiệp và công nghệ phát triển hiện đang cổ xuý rất mạnh mẽ xu hướng sinh thái hoá đô thị thông qua việc thể chế và pháp lý hoá quá trình thiết lập - xây dựng - vận hành hay phân cấp - phân loại - theo dõi những khu dân cư sinh thái tại các khu vực đô thị, đặc biệt đối với những đô thị lớn vốn được xem là nơi tập trung nhiều nhất các vấn đề về đô thị và môi trường sống hiện đại. 

Đi đầu trong xu thế sinh thái hóa các khu vực đô thị hay các đô thị tại Châu Âu là Đức và các nước Bắc Âu. Pháp, tuy muộn hơn nhưng đây có thể xem là một ví dụ điển hình về việc cập nhật xu thế phát triển đô thị gắn kết với các yếu tố sinh thái. 

Ngay từ những năm 2000, Pháp đã tích hợp các yếu tố phát triển theo hướng bền vững vào các dự án quy hoạch đô thị. Quy hoạch sinh thái là một trong những điều khoản quan trọng trong thoả thuận Grenelle năm 2007 được đề xuất bởi Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bền vững.

Đến năm 2008, ý tưởng về định danh các khu dân cư sinh thái bắt đầu được hiện thực hoá và đến năm 2012, danh hiệu quốc gia về khu dân cư sinh thái chính thức được thể chế hoá bởi Bộ Bình đẳng khu vực và Nhà ở, trở thành “Hiến chương về các khu dân cư sinh thái” được vận động thông qua và đồng ý tham gia tại nhiều địa phương trên lãnh thổ Pháp. Đáng chú ý nhất trong hiến chương này là hệ thống 20 tiêu chí được chia thành 4 nhóm nhằm đánh giá các dự án có thể đạt danh hiệu quốc gia về khu dân cư sinh thái. 

Có thể thấy hệ thống 20 tiêu chí hướng dẫn quá trình sinh thái hoá một khu dân cư mới ở những giai đoạn khác nhau (thiết kế - xây dựng - vận hành - bảo dưỡng) đến những cấp độ khác nhau (công trình - khu vực - đô thị - quốc gia - toàn cầu).

Các tiêu chí này nhằm xây dựng một khu dân cư sinh thái được thể hiện rõ ràng nhất ở những yếu tố “4 giảm 1 tăng”: (1) Giảm thiểu tiêu thụ năng lượng; (2) Giảm thiểu ô tô và khuyến khích sử dụng giao thông nhẹ; (3) Giảm thiểu tiêu thụ nước; (4) Giảm thiểu tạo ra rác thải; (5) Tăng cường tính đa dạng sinh học.

Hệ thống tiêu chí này cho phép khuyến khích, theo dõi và làm tăng giá trị các dự án quy hoạch bền vững thực sự tương ứng với quy mô và bối cảnh của chúng, đảm bảo cho chất lượng các dự án dựa trên cùng một nền tảng các nhu cầu cơ bản, cho phép địa phương hoá và thích ứng các phương pháp thực hiện ở tất cả các kiểu khu vực tác động tuỳ theo quy mô, bối cảnh, lịch sử, văn hoá khác nhau và ở tất cả các giai đoạn tiến triển khác nhau của dự án.

Điều kiện cần và đủ

Hà Nội nói riêng và các thành phố lớn của Việt Nam nói chung có một tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh kiến trúc đô thị hiện nay khi nó tập hợp nhiều vấn đề đô thị đối mặt cần giải quyết bởi những nhu cầu sống hiện đại, đồng thời cũng là nơi để thử nghiệm các đề xuất đô thị trước khi được thể chế hoá áp dụng trên phạm vi rộng hơn một cách hệ thống.

Trong đó, tiếp cận sinh thái là một phương pháp thú vị nhưng không phải là mới trong kiến trúc và đô thị. Nó làm cho những yếu tố đô thị, mặc dù là nhân tạo do các tác nhân cơ bản của đô thị (chính quyền, nhà thiết kế, chủ dự án và cộng đồng thị dân) kiến thiết nên lại trở thành một phần thú vị cấy ghép vào nhưng vẫn tôn trọng tính liên tục của môi trường tự nhiên.

Như vậy, thông qua việc thể chế hoá quá trình thiết lập một dự án eco-KĐTM và hệ thống hoá việc thiết lập nhiều dự án eco- KĐTM, các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách phát triển đô thị sẽ đồng thời đạt được nhiều mục tiêu hơn bản chất ban đầu của một dự án xây dựng hay của nhiều dự án phát triển riêng lẻ cung cấp nhà ở đơn thuần.

Nói cách khác, các yếu tố sinh thái được đưa vào như một công cụ nền tảng cơ bản để có thể giải quyết nhiều vấn đề đô thị khác (ngoài môi trường) mà Việt Nam phải đối mặt. Như vậy, các eco-KĐTM sẽ gánh một “trọng trách” trong đô thị vượt ra khỏi phạm vi khu vực dự án để hướng tới những mục tiêu cao cả hơn của xã hội đô thị: Được xem như những đòn bẩy để phục hưng và tái tạo lại tính hấp dẫn cho môi trường và xã hội đô thị tại những khu vực đô thị khác nhau trong các thành phố; kích hoạt các nguồn lực và tiềm năng xã hội đô thị ngay chính tại địa điểm và môi trường xây dựng dự án…

Lúc này việc tương trợ - tương hỗ - tương tác lẫn nhau để phát triển bền vững, thiết lập môi trường sống tốt, được xem là điều kiện đủ tạo ra sự hoàn thiện của một khu dân cư sinh thái nói riêng và một đô thị sinh thái nói chung.

20 tiêu chí khu dân cư sinh thái của Pháp

1. Dự án được thực hiện có thể đáp ứng nhu cầu cho tất cả nhưng vẫn dựa trên các nguồn lực và điều kiện khu vực.
2. Hình thành và đưa vào dự án một quá trình dẫn hướng và quản lý có quy mô.
3. Tích hợp những tiếp cận về chi phí tổng thể khi lựa chọn đầu tư.
4. Tính toán đến những thực tế sử dụng và các điều kiện quản lý trong việc lựa chọn phương án thiết kế.
5. Thực hiện các phương pháp tiến hành đánh giá và cải thiện liên tục.
6. Diễn ra trên thành phố hiện hữu và đề xuất một mật độ đáp ứng để chống lại sự phát triển dàn trải của đô thị.
7. Thực hiện các điều kiện về sự đa dạng xã hội và tích hợp hợp lý, tổng thể sống tốt và các gắn kết cộng đồng.
8. Đảm bảo một khung cảnh sống vệ sinh và an toàn.
9. Thiết lập một chất lượng triến trúc và đô thị dung hoà cường độ và chất lượng sống.
10. Phát huy các giá trị di sản (tự nhiên và công trình) của địa phương, lịch sử và những căn tính của khu vực dân cư.
11. Góp phần phát triển kinh tế địa phương, cân bằng và bền vững chắc chắn.
12. Đa dạng hoá các công năng trong một phạm vi lãnh thổ có khoảng cách ngắn.
13. Hoạch định mô hình tối ưu cho việc tiêu thụ các nguồn lực, các vật liệu và phát triển các nguồn cung ứng địa phương và vận chuyển ngắn.
14. Ưu đãi giao thông nhẹ và vận tải công cộng để giảm thiếu sự phụ thuộc vào xe cơ giới.
15. Thúc đẩy các chuyển hoá kỹ thuật số để hệ thống hoá dễ dàng các dịch vụ mới.
16. Tạo ra một quy hoạch đô thị cho phép dự báo và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như các nguy cơ có thể xảy ra.
17. Hướng đến một sự điều tiết năng lượng và đa dạng hoá nguồn năng lượng có thể tái tạo và thu hồi
18. Hạn chế rác thải, phát triển và củng cố việc tạo ra giá trị từ tái sử dụng rác thải.
19. Bảo tồn các nguồn nước và đảm bảo một sự quản lý nước chất lượng và kinh tế.
20. Bảo tồn và phát huy giá trị sự đa dạng sinh thái, mặt đất và môi trường tự nhiên.

TS. KTS. Trần Minh Tùng - Trưởng Bộ môn Kiến trúc dân dụng, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng

Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác

Hotline: 0984 777 107

Email: batdongsan@dddn.com.vn

Bình luận

Bạn còn 500/500 ký tự