Ðà Lạt và những đồ án quy hoạch đầy tham vọng

Đăng ngày 19/04/2019 21:57:20

Trong nửa đầu thế kỷ XX, Paul Champoudry và các kiến trúc sư Ernest Hébrard, Pineau, Mondet và Lagisquet đã thiết lập đồ án quy hoạch đô thị Đà Lạt.

Trung tâm Đà Lạt theo đồ án của kiến trúc sư J. Lagisquet

Trong các báo cáo ngày 12-3-1906, Paul Champoudry - Thị trưởng Đà Lạt đề nghị dành vùng đồi ở phía Bắc cao nguyên Lang Bi-an, phía hữu ngạn suối Cam Ly cho khu vực quân sự và vùng đất phía Nam ở tả ngạn suối Cam Ly cho thành phố trong tương lai. Ở đây sẽ thiết lập khu công chính và hành chính, một trung tâm thương mại bên cạnh chợ và ở khu trung tâm phố, khách sạn và giải trí.

Những bản quy hoạch dở dang

Nhà ga ở gần vị trí của ga ngày nay và kế bên là nhà bưu điện. Đường sá tương đối rộng: đường chính rộng 20m, đường phụ rộng 16m và 12m. Về sau, đồ án này được thực hiện một phần lớn và tạo cơ sở cho thành phố ngày nay.

Năm 1921, kiến trúc sư Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ thiết lập đồ án quy hoạch Đà Lạt. Tháng 8 năm 1923, công trình này được hoàn thành.

Tác giả có một tầm nhìn rất lớn, dự kiến xây dựng Đà Lạt thành thủ phủ của Liên bang Đông Dương. Theo bản đồ quy hoạch này, trên dòng suối Cam Ly có một chuỗi hồ: ngoài hồ Xuân Hương và hồ Than Thở như hiện nay, còn có 6 hồ nước khác mà hai hồ lớn nhất nằm ở khu vực Học viện lục quân (có nhà thủy tạ) và ở giữa đường Hoàng Diệu và Hoàng Văn Thụ trước khi dòng suối chảy đến thác Cam Ly.

Tư tưởng chủ đạo của Hébrard là tập trung vùng dân cư xung quanh hồ. Ở phía Bắc thành phố là khu quân sự. Khu bệnh viện trải dài từ đường Phạm Ngọc Thạch đến đường Trần Bình Trọng. Khu Toàn quyền nằm ở vị trí Học viện lục quân ngày nay gồm có 7 toà nhà dành cho Phủ Toàn quyền và các bộ: kinh tế, công chánh, tài chánh, nông nghiệp, thuỷ lâm... Khu hành chánh nằm dọc đường Trần Phú ngày nay với quảng trường, tháp đồng hồ, toà thị chính, kho bạc, nhà bưu điện, sở cảnh sát, thư viện, hội trường, rạp chiếu bóng, sở cứu hoả, bảo tàng dân tộc học, động, thực vật.

Khu vui chơi, giải trí ở khu vực giữa hồ và khách sạn Langbian Palace với hội trường, sòng bạc, quán cà phê, phòng đọc sách, sân quần vợt, vườn hoa,... Khu thể thao gồm có sân vận động, bể bơi nằm ở phía Bắc hồ Xuân Hương. Hai vườn hoa được bố trí ven hồ, trong khu vực Nhà nghỉ công đoàn và gần góc đường Bà Huyện Thanh Quan và Đinh Tiên Hoàng. Phía Nam hồ Than Thở là khu đất dành cho đồn điền của Ngân hàng kỹ nghệ Trung Hoa. Đường Đà Lạt - Sài Gòn đi qua ngả Khe Sanh.

Đồ án được thông qua, nhưng vì tỏ ra quá tham vọng vào thời điểm đó, nhất là hệ thống đường sá nên gây ra sự phản ứng. Sau đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 và việc giảm ngân sách một cách mạnh mẽ làm cho đồ án thất bại, chỉ có một trong ba sự phân lô và con đường dạo quanh hồ trở thành hiện thực.

Mười năm sau, năm 1933, kiến trúc sư Pineau trình bày một công trình nghiên cứu chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt thực tiễn hơn Hébrard. Ông cố gắng duy trì vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh ở Đà Lạt, dành một khu vực rộng lớn hình cánh quạt mà tâm điểm là Đà Lạt và tỏa ra đến tận các đỉnh núi Lang Bi-an cho khu bất kiến tạo (zone non oedificandi) và đề nghị thành lập Vườn quốc gia. Thành phố vây quanh hồ, từ Tây sang Đông Bắc tạo thành một đường vòng cung.

Năm 1940, kiến trúc sư Mondet thiết lập một đồ án quy hoạch và chỉnh trang Đà Lạt. Đồ án của ông trở về với quan niệm cũ của Hébrard là bố trí những vùng dân cư và hành chánh xung quanh hồ. Mặc dù về vài phương diện, nghiên cứu của Mondet rất đầy đủ nhưng đồ án không được duyệt.

“Hòn ngọc” Viễn Đông

Đến năm 1942, một thành phố xinh đẹp hiện ra với những đường phố rộng rãi, những biệt thự duyên dáng giữa những vườn hoa và thảm cỏ xanh tươi, mặt hồ phẳng lặng. Đà Lạt là một nơi nghỉ mát quan trọng nhất không những của Đông Dương mà cả Viễn Đông.

Rất tiếc, Đà Lạt vượt khỏi giới hạn và phát triển quá mức. Nhiều khu phố được hình thành một cách vội vã và không trật tự. Chính quyền phải can thiệp. Thành phố cần có quy hoạch và chỉnh trang có uy lực về pháp lý.

Theo Nghị định ngày 2-9-1941, Toàn quyền Decoux giao cho Nha Quy hoạch đô thị và Kiến trúc Đông Dương nghiên cứu và hoàn thành đồ án, đồng thời đề ra biện pháp bảo vệ trong thời gian chờ đợi công bố văn bản pháp quy.


Văn phòng Chính phủ trung ương

Trong tờ trình ngày 8-12-1942, kiến trúc sư J. Lagisquet - Giám đốc Nha Quy hoạch đô thị và Kiến trúc Đông Dương đã đánh giá Đà Lạt: “Không ai có thể phủ nhận Đà Lạt chiếm một vị trí đặc biệt thuận lợi ở Viễn Đông, khí hậu, danh lam thắng cảnh, tiềm năng phát triển làm cho Đà Lạt thành một nơi được ưu đãi, không nơi nào có thể so sánh được. Đà Lạt có thể và phải trở thành một nơi nghỉ mát lớn ở Viễn Đông”.

Dựa theo ý của kiến trúc sư Pineau, Lagisquet thiết lập đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt với những nét chính sau: Đà Lạt được mở rộng về hướng Nam, Tây Bắc. Cảnh quan về hướng núi Lang Bi-an được bảo vệ dành cho khu du lịch, rừng núi, khu bất kiến tạo, những khoảng trống, những khu đất dành cho thể thao và trò chơi. Khu nhà ở nằm ở phía Tây và phía Đông thành phố.

Ở ngoại ô thành phố, một vùng đất sang nhượng trải dài về phía Tây Bắc, Đông Nam thành phố và trong tỉnh Lang Bi-an dành cho các nông trại trồng rau, chăn nuôi và sản xuất sữa.

Ngoài ra, Đà Lạt còn mang tính chất đặc biệt: thành phố giáo dục và trung tâm thanh niên. Vùng dành cho xây dựng các trường học được rải đều khắp thành phố tuỳ thời cơ thuận lợi. Những ngôi trường chính được đầu tư để phát triển. Những khoảng đất trống rộng lớn được dành cho sân vận động, sân cù, các trò chơi thể thao... Sân bay cũ được dùng để cắm trại.

Bản quy hoạch hoàn chỉnh

Năm 1975, Ðà Lạt trở về với nước Việt Nam thống nhất, tiếp tục được xác định là Thành phố - Tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Ðồng mới (sát nhập bởi 2 tỉnh Tuyên Ðức và Lâm Ðồng cũ, kể từ ngày 05/6/1976), với dân số còn khoảng 86.000 người.

Năm 1985, đồ án Quy hoạch tổng thể xây dựng Ðà Lạt đến năm 2000 do Viện Quy hoạch Ðô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng lập, được xem là tương đối hoàn chỉnh và chuẩn bị trình Chính phủ phê duyệt thì đất nước chuyển sang giai đoạn thực hiện cơ chế kinh tế nhiều thành phần theo Nghị quyết Ðại hội VI của Ðảng (1986), nên đồ án quy hoạch tạm thời dừng lại để điều chỉnh cho phù hợp.

Ðến năm 1990, công việc quy hoạch được tiếp tục nghiên cứu, đưa thêm khái niệm “Vùng phụ cận” hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của Ðà Lạt, cùng với những tư duy mới, phù hợp cơ chế và tình hình đổi mới của Ðất nước.

Năm 1994, đồ án Quy hoạch tổng thể xây dựng Thành phố Ðà Lạt và Vùng phụ cận đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 620/ TTg ngày 27/10/1994), kết thúc gần 20 năm sau ngày giải phóng, trải qua quá trình phát triển đô thị và quản lý xây dựng thiếu định hướng quy hoạch chung.

Quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận tới năm 2010

Với vị thế mới, trong “Ðịnh hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị cả nước đến năm 2020”, Ðà Lạt được xác định là Thành phố trung tâm của hệ thống các đô thị của Vùng Tây Nguyên và Ðông Nam Bộ, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, đồ án Quy hoạch chung thành phố Ðà Lạt và Vùng phụ cận được điều chỉnh theo hướng mở rộng thành phố trong tầm nhìn 2020 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tại Quyết định số 409/ QÐ-TTg ngày 27/5/2002).

Ðặc điểm của đồ án khẳng định tính chất tỉnh lỵ, nhưng là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh; thêm chức năng hội nghị, hội thảo và sinh thái, cùng với du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng của vùng và cả nước; xác định tính chất trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học lớn và đa ngành của cả nước.

Chú trọng các khu vực kiến trúc cảnh quan, bảo tồn các công trình kiến trúc có giá trị, đồng thời phát triển kiến trúc mới hiện đại, giàu bản sắc dân tộc và truyền thống địa phương.

Kế thừa và phát triển cấu trúc không gian đô thị từ cấu trúc “bàn tay xoà” thành cấu trúc “cây, cành, nhánh”, xen kẽ giữa các khu ở, khu đô thị là những không gian hồ, suối, thung lũng rau hoa.

KỲ III: Đà Lạt - cô gái thành thị lạnh lùng

LINH NHI (tổng hợp)

Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác

Hotline: 0984 777 107

Email: batdongsan@dddn.com.vn

Bình luận

Bạn còn 500/500 ký tự